Với gia súc thả rông theo tập quán, người bắt được phải chờ một năm kể từ ngày thông báo công khai, chứ không phải sáu tháng, mới trở thành chủ sở hữu. Mốc dài hơn này bảo vệ những gia đình ở vùng núi, vùng cao nguyên vẫn thả trâu bò lên rừng nhiều tháng liền theo lệ của bản. Con vật đi xa, đi lâu mà chủ không đi tìm ngay là chuyện bình thường ở đó, không có nghĩa chủ đã bỏ.
Nhưng thế nào là "thả rông theo tập quán", ai xác nhận, và khi người ở xuôi lên mua lại con trâu đi lạc thì mốc nào áp dụng? Bài này dành cho cả hai phía: hộ có trâu bò thả rừng, và người bắt được một con vật lạ trên nương rẫy của mình.
Tập quán thả rông là gì và vì sao luật tôn trọng nó
Ở nhiều xã của Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng hay ở vùng đồi Gia Lai, Đắk Lắk, đồng bào nuôi trâu bò theo lối thả lên đồi, lên rừng sau mùa cày cấy. Con vật tự kiếm ăn, tự tìm chỗ nghỉ, có khi đi qua cả ranh giới xã. Chủ chỉ lên kiểm tra theo định kỳ, mang muối cho ăn, và lùa về khi cần cày hoặc khi trời rét. Đó là một tập quán sản xuất có từ lâu, được cả cộng đồng biết và chấp nhận.
Bộ luật Dân sự 2015 cho phép áp dụng tập quán khi các bên không thoả thuận và pháp luật không quy định, với điều kiện tập quán đó không trái các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự. Riêng với gia súc thất lạc, luật đã nói thẳng: thả rông theo tập quán thì mốc là một năm. Lý do dễ hiểu. Chủ con trâu thả rừng có thể ba bốn tháng mới phát hiện thiếu một con; nếu áp dụng sáu tháng, họ gần như không còn thời gian để đi tìm.
Điểm cần nhớ: "theo tập quán" phải là tập quán thật của nơi đó, không phải lý do tự đặt ra. Một hộ ở vùng đồng bằng thả bò ra đê cả tuần không có người trông thì chưa chắc đã được coi là thả rông theo tập quán, vì ở đó cộng đồng không có lệ ấy. Khi có tranh chấp, việc này thường phải được chứng minh, và người chứng minh hữu ích nhất là chính thôn, bản nơi chủ con vật sinh sống.
Sáu tháng hay một năm: so sánh hai trường hợp
Cùng là trâu bò đi lạc, nhưng hoàn cảnh chăn nuôi quyết định mốc thời gian. Bảng so sánh các điểm chính:
| Tiêu chí | Gia súc nuôi nhốt, chăn dắt | Gia súc thả rông theo tập quán |
|---|---|---|
| Hoàn cảnh điển hình | Trâu bò buộc ở chuồng, chăn ở bãi có người trông, đứt dây đi lạc | Trâu bò thả lên rừng, lên đồi nhiều tuần, nhiều tháng theo lệ của bản |
| Mốc để người bắt được thành chủ | Sáu tháng từ ngày thông báo công khai | Một năm từ ngày thông báo công khai |
| Việc người bắt được phải làm | Nuôi giữ, báo Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú | Giống bên cạnh; nên báo thêm trưởng bản nơi bắt được |
| Chủ thường phát hiện mất khi nào | Ngay trong ngày hoặc vài ngày | Có khi sau nhiều tuần, khi lên rừng kiểm đàn |
| Bằng chứng tập quán | Không cần | Hương ước, xác nhận của trưởng bản, lời của nhiều hộ cùng thả |
Nếu không rõ con vật mình bắt được có phải loại thả rông theo tập quán hay không, cách thận trọng là coi như mốc dài hơn. Chờ thêm sáu tháng gần như không thiệt gì cho người bắt được, trong khi giao dịch con vật quá sớm có thể kéo theo tranh chấp với chủ thật.
Chủ trâu bò thả rừng nên chuẩn bị gì để đòi lại được
Đánh dấu theo cách của bản. Nhiều nơi có lệ cắt tai, khía sừng, buộc mõ hoặc chuông theo kiểu riêng của từng nhà. Dấu riêng giúp người bắt được biết con vật có chủ và giúp bạn chứng minh. Nếu địa phương có triển khai đánh dấu, bấm số tai theo chương trình thú y thì nên tham gia.
Chụp ảnh từng con định kỳ. Mỗi lần lên rừng kiểm đàn, chụp ảnh rõ từng con: màu lông, hình sừng, vết sẹo. Ảnh có ngày tháng trên điện thoại là bằng chứng rất mạnh khi con vật bị người nơi khác bắt giữ.
Báo bản ngay khi thấy thiếu. Đếm thiếu một con là báo trưởng bản và nhờ báo sang các bản, các xã lân cận. Đừng đợi "chắc nó về". Báo sớm còn giúp phân biệt đi lạc với bị trộm, việc phải báo công an xã.
Nhờ xác nhận tập quán. Nếu phải chứng minh con vật thuộc loại thả rông theo tập quán, xin trưởng bản hoặc Uỷ ban nhân dân xã xác nhận lệ chăn thả của bản, đối chiếu hương ước nếu hương ước có nói đến việc thả trâu bò lên rừng.
Giữ người làm chứng. Những hộ cùng thả chung một khu rừng biết con nào của nhà nào. Ghi tên vài người có thể làm chứng, phòng khi phải hoà giải hoặc giải quyết ở cơ quan có thẩm quyền.
Người bắt được ở vùng khác: không biết có tập quán thì làm sao
Một con trâu thả rông có thể đi qua đèo, xuống tận cánh đồng của một xã cách xa hàng chục cây số, nơi người dân không chăn thả kiểu đó. Người bắt được nhìn con vật thấy béo khoẻ, không có dây buộc, dễ nghĩ đây là con đứt dây đi lạc bình thường và chỉ cần chờ sáu tháng.
Điều quyết định là hoàn cảnh của chủ con vật, không phải thói quen của nơi con vật lạc đến. Nếu chủ là hộ thả rừng theo lệ của bản, mốc một năm áp dụng dù người bắt được không biết điều đó. Vì vậy, khi bắt được trâu bò ở các xã giáp vùng núi, đặc biệt con vật có dấu khía tai, dấu sừng lạ hoặc đeo mõ gỗ, hãy nghĩ ngay đến khả năng nó là gia súc thả rông.
Việc làm hợp lý: báo Uỷ ban nhân dân xã nơi mình cư trú như mọi trường hợp; đề nghị xã thông báo rộng sang các xã giáp ranh, nhất là các xã vùng cao; tự nhờ người quen ở các bản phía trên hỏi giúp. Nếu không ai nhận, cứ đợi đủ một năm cho chắc. Nhiều cán bộ tư pháp xã cũng khuyên như vậy vì tránh được việc tranh cãi về sau.
Ví dụ giả định: chị Lan ở một xã vùng thấp của tỉnh Lào Cai bắt được con trâu đực có khía tai hình chữ V. Chị báo xã, xã thông báo và gửi tin sang mấy xã vùng cao. Tháng thứ tám, một hộ người Mông lên tìm, đưa ra ảnh chụp con trâu từ năm trước cùng xác nhận của trưởng bản về lệ thả trâu lên núi. Dù đã quá sáu tháng, con trâu vẫn chưa thuộc chị Lan vì chưa đủ một năm; chủ nhận lại và thanh toán tiền công nuôi giữ cho chị.
Thả rông theo tập quán không phải là được thả bất cứ đâu
Mốc một năm bảo vệ quyền sở hữu của chủ, nhưng không miễn cho họ các nghĩa vụ khác khi con vật thả rông gây chuyện:
- Nhiều địa phương có quy định về việc không thả rông gia súc trên đường giao thông, trong khu dân cư, khu vực trồng rừng mới. Vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo văn bản hiện hành của từng lĩnh vực.
- Gia súc thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường theo tập quán, miễn tập quán đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
- Hương ước của thôn, bản thường có điều khoản về mùa thả, mùa nhốt, khu vực cấm thả; làm trái hương ước thì bị nhắc nhở, hoà giải theo cơ chế cộng đồng.
- Con vật thả rông vào rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có thể phát sinh vấn đề với quy định bảo vệ rừng; trường hợp này cần hỏi kiểm lâm địa bàn.
- Gia súc thả rông vẫn phải tiêm phòng theo yêu cầu của thú y địa phương; con vật mang bệnh đi lạc sang đàn khác có thể gây thiệt hại lớn.
Nói cách khác, tập quán giúp chủ có thêm thời gian để tìm con vật, nhưng không biến việc thả rông thành lý do để không chịu trách nhiệm.
Khi hai bên không thống nhất về tập quán
Tranh chấp điển hình: người bắt được nói con vật chỉ là trâu nhà đứt dây, đã quá sáu tháng nên thuộc về mình; chủ nói đó là trâu thả rừng, chưa đủ một năm. Hai bên đều có lý theo cách nhìn của mình. Cách giải quyết đầu tiên luôn là hoà giải ở thôn, bản hoặc Uỷ ban nhân dân xã, có mặt trưởng bản nơi chủ sinh sống để xác nhận lệ chăn thả.
Các chứng cứ thường được xem xét: lời xác nhận của trưởng bản và nhiều hộ trong bản về việc thả trâu bò lên rừng; hương ước có điều khoản liên quan; ảnh chụp con vật trên rừng những lần trước; dấu khía tai, dấu sừng theo kiểu của bản. Nếu chủ chứng minh được, mốc một năm được áp dụng.
Trường hợp hoà giải không thành, một bên có thể khởi kiện ra toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Với một con trâu, chi phí và thời gian đi kiện thường lớn hơn nhiều giá trị tranh chấp, nên hai bên thường tìm điểm chung: chủ nhận lại con vật, trả tiền công nuôi giữ sòng phẳng, chia con nghé sinh ra nếu có. Đó cũng chính là cách luật đã sắp xếp quyền lợi giữa hai phía.
Người bắt được cũng nên nhớ rằng phần mình được hưởng không mất đi chỉ vì mốc là một năm: tiền công nuôi giữ, chi phí thức ăn, thuốc men và một nửa số con sinh ra trong thời gian nuôi giữ vẫn được tính. Ghi chép đều đặn những khoản đã bỏ ra, giữ hoá đơn mua thuốc thú y, ghi ngày con vật đẻ, chụp ảnh nghé, bê mới sinh. Khi ngồi lại với chủ, sổ ghi chép rõ ràng giúp cuộc nói chuyện ngắn hơn và ít cãi nhau hơn rất nhiều.
Câu hỏi thường gặp
Gia súc thả rông theo tập quán là những con vật nào?
Luật không liệt kê loài cụ thể mà nhìn vào cách chăn nuôi: con vật được chủ thả tự do kiếm ăn trên rừng, đồi, bãi chăn thả chung trong thời gian dài theo lệ của địa phương. Thường là trâu, bò, ngựa, dê ở vùng núi và cao nguyên. Lợn thả rông theo lệ của một số bản cũng có thể thuộc nhóm này.
Ai xác nhận một vùng có tập quán thả rông?
Không có thủ tục cấp giấy riêng. Khi cần, trưởng thôn, trưởng bản và Uỷ ban nhân dân xã nơi chủ con vật cư trú có thể xác nhận lệ chăn thả của cộng đồng; hương ước, quy ước của thôn bản và lời của các hộ cùng chăn thả là chứng cứ hỗ trợ.
Mình bắt được trâu ở đồng bằng thì có phải chờ một năm không?
Mốc phụ thuộc vào việc con vật có phải loại thả rông theo tập quán của chủ hay không, không phụ thuộc nơi bắt được. Nếu không xác định được, chờ đủ một năm là cách an toàn, tránh tranh chấp khi chủ ở vùng cao xuống tìm sau sáu tháng.
Chủ thả trâu lên rừng rồi bỏ mặc mấy năm thì còn quyền gì không?
Thả rông theo tập quán vẫn là chăn nuôi có chủ, chủ thường xuyên lên kiểm đàn. Nếu thực sự bỏ mặc lâu năm, việc chứng minh mình còn là chủ sẽ khó hơn nhiều. Trường hợp này phức tạp, nên hỏi cán bộ tư pháp xã hoặc người làm nghề luật.
Gia súc thả rông phá nương rẫy nhà người khác thì ai đền?
Chủ sở hữu gia súc thả rông theo tập quán phải bồi thường thiệt hại do con vật gây ra theo tập quán, miễn tập quán không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Thực tế ở các bản thường có mức bồi thường theo lệ; nếu hai bên không thống nhất, nhờ trưởng bản và xã hoà giải.