ChiemHuu.comChiếm Hữu
Quyền hưởng dụng, quyền bề mặt và hoa lợi

Lập quyền bề mặt bằng văn bản: điều khoản cần có trước khi xây trên đất người khác

Trước khi bỏ tiền xây nhà, dựng xưởng hay trồng vườn trên đất của người khác, văn bản xác lập quyền bề mặt cần ghi những gì, ai phải ký, và những lỗi hay gặp.

Over-the-shoulder view of a Vietnamese man measuring a corner of an empty garden plot with a tape measure and wooden stakes in Quang Ngai, blank notebook on a stool

Văn bản xác lập quyền bề mặt cần ghi rõ: ai trao quyền và ai nhận, phần không gian nào trên thửa đất, được làm gì, trong bao lâu, có trả tiền không, được chuyển giao không, và công trình xử lý ra sao khi quyền chấm dứt. Thiếu một trong những điểm này, người bỏ vốn xây dựng mang rủi ro rất lớn.

Bộ luật Dân sự 2015 cho phép xác lập quyền bề mặt theo thoả thuận nhưng không đưa ra mẫu văn bản. Bài này đi qua từng nhóm điều khoản theo thứ tự nên nghĩ tới, chỉ ra những người bắt buộc phải đồng ý, và liệt kê các lỗi đã gặp nhiều trong các gia đình. Đây là bố cục nội dung để tham khảo, không phải một "mẫu chuẩn" để chép nguyên.

Vì sao phải làm trước khi đặt móng

Phần lớn tranh chấp về nhà xây trên đất người khác bắt đầu bằng một lời đồng ý miệng. Lúc đó hai bên thân thiết, cha mẹ thương con, anh em đùm bọc nhau, chẳng ai nghĩ tới chuyện viết ra giấy. Mười, hai mươi năm sau, người cho phép đã mất, đất được chia thừa kế, những người thừa kế không chứng kiến lời đồng ý năm xưa. Người đã xây chỉ còn cách chứng minh mình bỏ tiền, xin bồi hoàn giá trị, trong khi ngôi nhà đang ở có thể không còn là của mình.

Lập quyền bề mặt trước khi xây đảo ngược thế yếu này. Văn bản ghi rõ ngôi nhà sẽ là của người xây, có thời hạn, có điều kiện; người có đất vẫn giữ đất, biết chắc đất sẽ trở về như thế nào khi hết hạn. Cả hai bên đều có lợi khi mọi thứ được viết ra trong lúc còn vui vẻ.

Một lý do thực tế khác: khi người xây không đứng tên đất, thủ tục xin phép xây dựng, đấu nối điện nước, sau này là ghi nhận quyền sở hữu công trình đều cần chứng minh mình được phép xây trên đất ấy. Văn bản xác lập quyền bề mặt có công chứng, chứng thực là giấy tờ nền cho các bước đó, dù yêu cầu cụ thể của từng thủ tục phải đối chiếu quy định hiện hành nơi có đất.

Ai phải ký: đừng thiếu người

Người có quyền sử dụng đất. Người đứng tên trên giấy chứng nhận là bên trao quyền. Đọc kỹ giấy chứng nhận xem đứng tên một người, hai vợ chồng, hay nhiều người.

Vợ hoặc chồng của người có đất. Nếu thửa đất là tài sản chung của vợ chồng, việc trao quyền bề mặt dài hạn đè lên tài sản chung nên cần cả hai cùng đồng ý. Thiếu chữ ký của một bên là mầm tranh chấp ngay trong gia đình người có đất.

Các thành viên có chung quyền sử dụng đất. Với đất cấp cho hộ gia đình trước đây hay đất đồng sử dụng của nhiều người, những người có chung quyền đều liên quan. Cần xác định ai là thành viên có chung quyền ở thời điểm được cấp, đối chiếu hồ sơ tại nơi đăng ký đất đai, rồi lấy đủ đồng ý.

Bên nhận quyền và người cùng bỏ vốn. Nếu hai vợ chồng cùng bỏ tiền xây, nên đứng tên cả hai ở bên nhận quyền bề mặt, để sau này không phải tranh cãi công trình là tài sản riêng hay chung.

Người đang có quyền trên thửa đất. Đất đang thế chấp ngân hàng thì cần hỏi bên nhận thế chấp, vì việc trao quyền bề mặt ảnh hưởng tới giá trị tài sản bảo đảm. Đất đang có người hưởng dụng, có lối đi chung cũng cần xem phạm vi có chồng lấn không.

Các nhóm điều khoản cần có

Bảng dưới gom các điều khoản theo nhóm, kèm câu hỏi mà mỗi điều khoản phải trả lời. Văn bản thực tế có thể dài ngắn khác nhau, nhưng không nên để trống câu hỏi nào.

Nhóm điều khoảnPhải trả lời câu hỏiGhi chú
Phạm vi không gianPhần nào của thửa đất, diện tích bao nhiêu, có bao gồm khoảng không phía trên và lòng đất không, tới độ cao, độ sâu nàoNên kèm sơ đồ có kích thước, đánh dấu mốc ngoài thực địa
Mục đíchĐược xây gì, trồng gì; có được đổi mục đích trong thời hạn khôngPhải phù hợp mục đích sử dụng đất và quy hoạch
Thời hạnBắt đầu từ ngày nào, kết thúc ngày nào; có gia hạn không, điều kiện gia hạnKhông vượt thời hạn sử dụng đất; không ghi thì mỗi bên được chấm dứt với báo trước ít nhất sáu tháng
Đền bùCó trả tiền không, trả một lần hay định kỳ, điều chỉnh theo thời gian ra sao, chậm trả thì saoGiữa người thân có thể không đền bù, nhưng nên ghi rõ là không đền bù
Quyền sở hữu công trìnhCông trình thuộc ai, có được thế chấp, cho thuê công trình khôngBộ luật cho người có quyền bề mặt sở hữu tài sản tạo lập
Chuyển giaoNgười có quyền bề mặt có được chuyển giao một phần, toàn bộ quyền cho người khác không, có cần báo trước khôngBộ luật cho phép chuyển giao; các bên có thể thoả thuận điều kiện
Khi chấm dứtAi tháo dỡ, chi phí ai chịu, người có đất có quyền mua lại công trình không, giá tính thế nàoKhông ghi thì áp dụng nguyên tắc của Bộ luật, xem bài riêng
Thu hồi đất, thiên taiKhoản bồi thường chia ra sao; công trình hư hỏng có được xây lại khôngBồi thường theo pháp luật đất đai hiện hành
Nghĩa vụ thuế, phí và chi phí chungAi nộp phần thuế, phí liên quan tới phần đất, điện nước, lối điThoả thuận nội bộ, không thay đổi người nộp theo luật thuế

Nhóm điều khoản về chấm dứt là nhóm hay bị viết qua loa nhất, vì lúc ký ai cũng nghĩ còn lâu. Nhưng chính nó quyết định số phận của khoản tiền lớn nhất mà người xây bỏ ra.

Mục đích sử dụng và giới hạn của pháp luật đất đai

Quyền bề mặt là chuyện dân sự giữa hai bên, nhưng không đứng ngoài pháp luật đất đai và xây dựng. Bộ luật quy định người có quyền bề mặt khai thác không gian để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác, nhưng không được trái với quy định về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, môi trường và luật khác có liên quan.

Hệ quả thực tế: không thể dùng quyền bề mặt để xây nhà ở trên đất trồng lúa, đất rừng, đất chưa được chuyển mục đích. Nếu mục đích xây dựng đòi hỏi chuyển mục đích sử dụng đất, việc đó do người có quyền sử dụng đất làm theo thủ tục hiện hành, và nên xong trước khi ký quyền bề mặt hoặc ghi rõ là điều kiện để quyền có hiệu lực.

Tương tự, quy hoạch có thể khiến phần đất dự định xây nằm trong chỉ giới đường, hành lang an toàn công trình. Trước khi ký, bên nhận quyền nên xin thông tin quy hoạch của thửa đất ở cơ quan có thẩm quyền nơi có đất, để không bỏ tiền xây một công trình có nguy cơ bị buộc tháo dỡ. Quyền bề mặt mạnh tới đâu cũng không thắng được quy hoạch đã được phê duyệt.

Trình tự từ thoả thuận tới lúc khởi công

Một trình tự gọn, áp dụng được cho đa số trường hợp gia đình và làm ăn nhỏ:

  1. Kiểm tra giấy chứng nhận, tình trạng thế chấp, quy hoạch và mục đích sử dụng của thửa đất.
  2. Xác định đủ những người phải đồng ý bên có đất; thống nhất các nhóm điều khoản trong bảng ở trên.
  3. Đo vẽ phần đất trao quyền, đánh dấu mốc ngoài thực địa, lập sơ đồ kèm văn bản.
  4. Lập văn bản xác lập quyền bề mặt, công chứng hoặc chứng thực theo quy định đối với giao dịch liên quan tới đất.
  5. Bàn giao phần đất, lập biên bản bàn giao có ngày tháng; theo Bộ luật, đây là mốc quyền bề mặt bắt đầu có hiệu lực nếu không có thoả thuận khác.
  6. Hỏi văn phòng đăng ký đất đai, chi nhánh nơi có đất về việc ghi nhận quyền bề mặt theo quy định hiện hành và thực hiện nếu có thủ tục.
  7. Làm thủ tục xin phép xây dựng nếu công trình thuộc diện phải xin phép, dùng văn bản quyền bề mặt làm giấy tờ chứng minh quyền xây trên đất.

Thứ tự quan trọng ở chỗ: kiểm tra pháp lý đất trước, ký sau; ký và bàn giao trước, xây sau. Đảo ngược thứ tự là đặt vốn lên một nền móng pháp lý còn bỏ ngỏ.

Những lỗi hay gặp khi các gia đình tự viết

Các lỗi dưới đây lặp đi lặp lại trong những văn bản tự soạn, kể cả khi đã được công chứng:

  • Ghi "cho con xây nhà trên đất" mà không nói nhà là của ai, thời hạn bao lâu: văn bản thành vô dụng đúng lúc cần nó.
  • Không ghi phạm vi, không có sơ đồ: vài năm sau con cơi nới, lấn thêm, hai bên mỗi người nhớ một kiểu.
  • Thiếu chữ ký của vợ hoặc chồng, của anh chị em đồng sử dụng: văn bản bị yêu cầu tuyên vô hiệu một phần hoặc toàn bộ.
  • Không nói gì về chấm dứt: khi người có đất mất, những người thừa kế đòi đất, không ai biết xử lý ngôi nhà thế nào.
  • Nhầm quyền bề mặt với tặng cho đất: nếu thật ra muốn cho con hẳn phần đất đó thì thủ tục đúng là tách thửa, tặng cho quyền sử dụng đất, không phải quyền bề mặt.
  • Ghi thời hạn vượt quá thời hạn sử dụng đất, nhất là với đất nông nghiệp có thời hạn.

Khi giá trị công trình lớn, gia đình có nhiều người thừa kế tiềm năng, hoặc đất có yếu tố phức tạp như đang thế chấp, đang tranh chấp ranh giới, nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn hoặc nhờ người làm nghề rà văn bản trước khi ký. Chi phí cho một lần rà soát thường nhỏ hơn rất nhiều so với giá trị công trình.

Ví dụ giả định: một văn bản viết đủ và một văn bản viết thiếu

Hai chị em ở Lâm Đồng cùng xin cha mẹ cho dựng nhà trên đất vườn. Chị cả ký một tờ giấy viết tay với cha: "Bố đồng ý cho con gái xây nhà trên đất của bố". Em út ra công chứng một văn bản ghi rõ: quyền bề mặt trên hai trăm mét vuông phía đông, kèm sơ đồ; thời hạn ba mươi năm, không vượt thời hạn sử dụng đất; nhà là của em và chồng; được chuyển giao cho con cái của em; khi hết hạn, cha mẹ hoặc người thừa kế có quyền mua lại nhà theo giá do tổ chức thẩm định giá xác định, không mua thì em tự tháo dỡ trong một năm. Mẹ cùng ký vì đất là tài sản chung của cha mẹ.

Sau khi cha mất, các anh em khác yêu cầu chia di sản. Với ngôi nhà của em út, câu trả lời đã có sẵn trong văn bản: đất được chia, nhà vẫn là của em út, quyền bề mặt tiếp tục tới hết thời hạn. Với ngôi nhà của chị cả, tờ giấy viết tay chỉ chứng minh cha đã cho phép xây, không nói nhà là của ai, không có chữ ký của mẹ. Tranh chấp kéo dài, và kết quả có lợi cho chị đến đâu phụ thuộc vào chứng cứ về tiền xây, lời khai của những người biết chuyện.

Câu hỏi thường gặp

Văn bản xác lập quyền bề mặt có bắt buộc công chứng không?

Giao dịch liên quan tới quyền sử dụng đất nhìn chung phải công chứng hoặc chứng thực theo pháp luật đất đai. Với quyền bề mặt, nên làm công chứng hoặc chứng thực để có giá trị chứng cứ cao và làm cơ sở cho các thủ tục sau. Đối chiếu yêu cầu cụ thể hiện hành tại tổ chức công chứng hoặc nơi chứng thực.

Người có quyền bề mặt có xin được giấy phép xây dựng không?

Về nguyên lý, người xây cần chứng minh mình có quyền xây trên đất. Văn bản quyền bề mặt là một trong những giấy tờ để chứng minh. Hồ sơ cụ thể và việc cơ quan cấp phép chấp nhận giấy tờ nào thực hiện theo quy định về xây dựng hiện hành tại nơi có đất; nên hỏi trước khi nộp.

Có nên ghi giá mua lại công trình ngay trong văn bản không?

Ghi một con số cố định cho ba mươi năm sau thường không hợp lý vì giá trị thay đổi. Cách thường dùng là ghi phương pháp xác định giá: theo thẩm định của một tổ chức thẩm định giá, theo giá trị còn lại của công trình, hoặc theo thoả thuận tại thời điểm đó, kèm cách giải quyết nếu không thoả thuận được.

Có thể lập quyền bề mặt cho người không phải họ hàng không?

Có. Quyền bề mặt không giới hạn trong gia đình. Hộ dân có thể trao quyền bề mặt cho một hộ khác, một hợp tác xã, một doanh nghiệp. Khi bên nhận là người ngoài, các điều khoản về đền bù, chuyển giao và chấm dứt càng cần chặt chẽ.

Nếu người có đất đổi ý trước ngày bàn giao thì sao?

Quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm bàn giao phần không gian, trừ khi thoả thuận khác. Nếu văn bản đã ký mà bên có đất không bàn giao, đây là vi phạm thoả thuận; bên nhận có thể yêu cầu thực hiện hoặc bồi thường theo quy định chung. Nên ghi rõ ngày bàn giao trong văn bản.

Quyền bề mặt có dùng để thế chấp vay vốn được không?

Công trình do người có quyền bề mặt tạo lập là tài sản của họ, nên về nguyên lý có thể dùng làm tài sản bảo đảm. Thực tế ngân hàng xem rất kỹ thời hạn còn lại của quyền bề mặt và giấy tờ ghi nhận công trình. Nên hỏi trực tiếp tổ chức tín dụng trước khi tính tới.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.